Click to view
|
| Taima-dera Mandala
|
|
|
|
|
4 Phần chính của Mandala
|
|
| Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
|
|
|
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật Mandala Sukhavati-vyuha Sutra Mandala
Tại Nhật Bản Taima Mandala là Mandala cổ nhất và được nhiều người biết đến. Theo truyền thuyết, nàng Chujo no Tsubone, con gái của một quý tộc Yokohagino Dainagon, mẹ nàng đã mất, có lòng thành tín và mong cầu được sanh vào Cực Lạc Quốc. Năm 763, nàng Chujo xuất gia tại chùa Taima dera, tại Nara Prefecture, và nhận pháp danh là Honyo (tạm dịch Pháp Chân - Dharma-suchness).
Sau vì mong cầu được nhận điển quan của Phật A Di Đà, ni cô Honyo bắt đầu bảy ngày thiền quán thân sắc đức Phật A Di Đà. Đến ngày thứ sáu, một vị ni cô hiện ra và chỉ bảo Honyo gom thu cành hoa sen cho đầy 100 thúng chở bằng ngựa. Sau ba ngày, nhờ sự giúp đỡ của cha, ni cô Honyo hoàn tất công việc thu gom cành hoa sen. Vị ni cô kia lại hiện ra lần nữa và tán thân của cành sen thành chỉ. Khi vị ni cô này nhuộm chỉ với năm mầu tiêu biểu của Phật Giáo, một vị ni cô khác hiện ra và dùng chỉ ngũ sắc này dệt thành Mandala trong một đêm.
Ni cô Honyo vui mừng khi nhìn thấy Manadala và hỏi tên của chư vị ni cô. Vị ni cô đầu tiên phán rằng, người là hóa thân của Phật A Di Đà (Amita Buddha) và vị ni cô thứ nhì là Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalikiteshvara Bodhisattva). Từ đó ni cô Honyo gia trì thiền quán Mandala và được hóa độ sanh vào Cực Lạc Giới trong năm 775 (từ 763 đến 775 là 12 năm thiền quán). Vì truyền thuyết này nên Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật Mandala mang tên Taima Mandala.
Taima Mandala là một tranh rất lớn, nặng, và nhiều mầu sắc, khuôn hình vuông với 13 feet chiều dài và 13 feet chiều dài, và rất khó nhận diện tất cả. Sau này các tranh sao lại nhỏ hơn với mầu sắc và chi tiết đầy đủ. Mandala này được thịnh thành sau thế kỷ thứ 13. Ngài Shoku (1177-1247), đệ tử của ngài Honen (Pháp Nhiên 1133-1212) và là người thành lập ra trường Seizan thuộc Tịnh độ tông, được vị sư trụ trì, Ken'a, thỉnh mời đến thăm viếng chùa Taima-dera,
tại Nara Prefecture
, vào năm 1229, và để kiểm chứng Manadala.
Ngài Shoku rất thán phục trước sự to lớn và chi tiết diễn tả như trong bộ sớ diễn nghĩa Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật do ngài Shan-Tao (Thiện Đạo 613-681) viết, Quán kinh nghĩa sớ (Quán kinh tứ thiếp sớ, Quán kinh khải định sớ, Quán kinh định thiện sớ - Commentary on the Contemplation sūtra). Ngài Shoku ghi chú các chi tiết cả Mandala, và cho các họa sĩ sao lại bản vẽ chính để gởi đi các nơi. Các bản vẽ được cúng dường vào các chùa và các trung tâm chuyên niệm Phật (Nembutsu - Nam Mô A Di Đà Phật - Namu Amida Butsu). Ngài cũng cho điêu khắc trên gỗ và gởi đi các nơi ở Nhật và Trung Hoa.
Hiện nay Mandala (bản chính) được lưu giữ tại chùa Taima-dera. Mandala này thu hút rất đông du khách hành hương. Bản chính được lọng trong khung kính để mọi người được chiêm ngưỡng di tích đặc biệt và nổi tiếng này.
Vào thời đại Edo (1603-1867) Taima Mandala được tín chuyển rộng rãi tại Nhật Bản, rất nhiều bản sao được tạo dưới nhiều khổ rộng phân nửa, một phần tư, một phần tám, một phần mười sáu, một phần hai mươi năm, và có cả một phần trăm so với khuôn khổ của bản chính.
Mandala đang tra cứu không phải là bản chính. Tại Mỹ quốc, một số Bảo tàn viện có Mandala làm vào thời đại Edo, Bảo Tàn viện tại:
| New York
|
Minnesota
|
The Metropolitan Museum of Art 1000 Fifth Avenue at 82nd Street New York, New York 10028 Tel: 212-535-7710
|
The Minneapolis Institute of Arts 2400 Third Avenue South, Minneapolis, Minnesota 55404 Tel: (612) 870-3131
|
Links to website:New York direct link to Mandala
|
Website:Minnesota direct link to Mandala
|
Taima Mandala, hay Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật Mandala, được chia ra làm bốn phần chính. Phần chính giữa là hóa cảnh của Tây Phương Cực Lạc quốc độ hay Cực Lạc Quốc, cõi giới của đức Phật A Di Đà (Amita Buddha). Cột hình phía phải, phía tay phải của Phật A Di Đà, Mandala là nhân duyên có Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Cột hình phía trái là 13 quán pháp. Bên dưới là hạng thứ khi được sanh vào Cực Lạc Quốc theo đạo hạnh của mỗi người. (Cách đọc hình các cột, đọc theo thứ tự, 2- cột hình phải từ dưới lên, 3- cột hình trái từ trên xuống, và 4- cột hình nằm từ trái (Mandala) sang phải.)
|
Pháp, Dharma (s), Dhamma (p), Hassu (j) → Đàm ma, Đàm mô (phiên âm phạn ngữ) 1- Bất kỳ vật hay việc gì, dú lớn hay nhỏ, hữu hình hay vô hình, tốt hay xấu, hữu vi hay vô vi, chơn thật hay hư vọng, những nguyên tắc hay luật chung của tôn giáo hay vũ trụ, đều gọi chung là pháp. 2- Còn dùng chỉ riêng đạo lý của đạo Phật. Pháp có 3 thời kỳ: - Thời Chánh pháp: lúc Phật nhập diệt cho đến 500 năm sau, nhờ ảnh hưởng thần lực của Phật nên người tu dễ đắc đạo. - Thời Tượng pháp: kéo dài 1000 năm kể từ sau 500 sau khi Phật nhập diệt. Pháp còn tương tợ chứ không phải là chánh, dù khó nhưng cũng có nhiều người đắc đạo. - Thời Mạt Pháp: từ 1500 năm sau khi Phật nhập diệt trở về sau, thời kỳ này kéo dài 1000 năm. Người tu sanh giải đãi, sa ngã, ít người tinh tấn, ít người thành đạo. Pháp có 5 thứ: - giáo pháp (pháp để dạy) - hạnh pháp (pháp để hành) - chứng pháp (pháp tu đắc) - nhiếp pháp (pháp giữ lấy) - thọ pháp (pháp lãnh thọ). Tự điển PG-cư sĩ Minh Thông
Tịnh độ tông được hệ thống hoá ở Trung quốc do các Ngài Ðàm Loan (T'an-luan -Donran), Ðạo Xước (Tao-ch'o - Doshaku) và Thiện Ðạo (Shan-Tao - Zendo), còn ở Nhật do các Ngài Honen (Pháp Nhiên, người thành lập tông Jodo--Tịnh Độ Tông) và Shinran (Thân Loan, người thành lập tông Jodo-Shin-Tịnh Độ tông nguyên thủy) cùng với Ippen (Nhất Biến, người thành lập Thời Tông). Tự điển PG-cư sĩ Minh Thông
Man-đa-la (Mandala) là họa đồ hay hình vẽ, có cấu trúc quy định và cách dùng mầu sắc, diễn tả một sự thể trong không gian hai chiều để biệu tượng sự thể trong không gian ba chiều. Mandala là một linh cụ dùng trong thiền quán. Thiên về "Ý" trong tam mật: Thân, Khẩu, và Ý.
Màu sắc là sắc tướng của ánh sánh. Không có ánh sáng ta không thấy được, ánh sáng lúc nào cũng có, và ánh sánh lúc nào cũng có mầu sắc, nhưng vì mắt thường nên ta không thấy được. Ngày nay, qua khoa học, chúng ta có thể nghiệm chứnng được mầu sắc của ánh sáng. Mầu sắc của ánh sáng ví như âm nhạc có nốt nhạc trầm, nốt nhạc cao; có nốt nhạc êm diệu, có nốt hùng mạnh; có nốt nhạc ngắn, có nốt nhạc dài. Huyền bí như âm thanh của các câu chú, và những sức năng vi hiệu qua các thủ ấn. Mầu sắc là thành quả, là sắc tướng của tâm. Thiền quán, mầu sắc là phương tiện "tạo" ánh sáng cho tâm.
|
|
|
My email: webtinhdo@yahoo.com
|
|